

Kệ
Giới
1) Giới như trái đất
2) Định như cây trồng trên trái đất
3) Huệ như trái cây.
Giới là nguồn cội của đạo Phật, giới c̣n th́ đạo vẫn c̣n; giới mất th́ đạo phải mất; giới ví như khuôn h́nh cái trống, để bào thủ lấy cái tiếng đầm ấm thanh tao của nó; giới ví như cái bầu không khí để hộ lấ sự sống của muôn loài.
Giới luật dắt dẫn người hành đạo từ thấp chí cao, tùy đẳng cấp, chớ sự tu hành chẳng phải không chuyên mà thành, không hành mà đắc. Giới ví như bờ biển, bao giờ cũng lài, cũng thấp, cũng bằng thẳng, chớ không phải dốc, đứng và hẩm sâu như các giếng, ao vậy. V́ thế nên vị nào hiểu rơ giới luật ấy rồi, th́ hết ḷng vui thích mà hành theo.
Điều luật mà Phật đă giáo huấn cho các hạng Thinh văn rồi, ví dầu có điều chi uất trắc đến đỗi phải chịu luật tử h́nh đi nữa, cũng không thế nào ai dám bạo gan mà bỏ điều luật ấy. Cũng như nước trong biển cà, hằng giữ lấy mực cũ, chớ không v́ một nguyên nhân ǵ mà phải đầy vơi như nước ở sông, ở rạch.
Bởi thế nên vị nào hiểu biết điều luật ấy rất lấy làm vui thích mà hành theo.
Những kẻ v́ tính xấu, quyết ḷng phá giới, làm cho người khác phải khổ tâm, hoặc che lấp các việc xấu của ḿnh mà bài xích kẻ khác, ḿnh đáng bực thầy mà tự xưng là thầy, không phải người cao siêu đức hạnh lại tự nhận là cao siêu đức hạnh, trong ḷng chứa đầy ác dục,nhơ nhớp tợ như đống rác dưới thềm. Thánh chúng không thể chung cùng, nên xét lại hầu đem kẻ ấy ra khỏi Giáo hội lập tức: ví dầu kẻ ấy có cượng ngồi chung trong đám hiệp ḥa kia đi nữa, kẻ ấy ở trong Giáo hội cũng không c̣n giá trị trong Giáo hội mà chúng hiệp ḥa lại phải khổ tâm với kẻ ấy, chẳng khác nào biển cả, không bao giờ chứa một cái tử thi, dầu có đi nữa, cũng bị nước biển lần hồi đưa vào mé, rồi đưa tạt lên bờ !
Trong các đẳng cấp, của các hạng người trong xă hội khi xuất gia vào thọ lănh giới luật, mà Phật đă giáo hóa rồi th́ cần nhứt phải dứt bỏ danh vọng thế lực, dơng dơi, tổ tông mà nh́n nhận lấy chủng tộc Sa-môn, họ hàng Khất-sĩ mới được. Ví như nước của các nguồn sông, khi chảy vào đến biển rồi cũng phải dứt bỏ cái nguyên chất của nó mà chung lấy một chất với nước biển.
Dầu cho có một số nhiều vị nhập Vô dư Niết Bàn cùng là đắc Hữu dư Niết Bàn đi nữa, trong Giáo hội cũng không đến nỗi phải thưa thớt quạnh hiu, hay là đông đầy náo nhiệt. Ví như nước của các nguồn sông, rạch, cùng nước ở trên không trung sa vào biển cả, cũng không thể làm cho biển cả v́ lẽ ấy mà phải đầy vơi, sái mực.
Giới luật chỉ đồng một phẩm vị giải thoát, ví như nước trong biển cả, chỉ có một chất mặn mà thôi.
Giới luật có nhiều điều quí báu, bằng làm cho con người đặng mở mang tấn hóa, những điều ấy như vầy: bốn chỗ niệm, bốn ư dứt, bốn phép mầu, năm căn, năm lực, bảy phần Bồ Đề, tám món Thánh đạo là những pháp quá cao thượng, ví như trong biển cả có nhiều vật báu: vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, pha lê, châu đỏ, mă năo, những vật báu ấy, chỉ thường có ở nơi đáy biển.
Giới luật là nơi dung thân của những thiện căn như: Tu-Đà-Hườn đạo, Tu-Đà-Hườn quả, Tư-Đà-Hàm đạo, Tư-Đà-Hàm quả, A-Na-Hàm đạo, A-Na-Hàm quả, A-La-Hán đạo, A-La-Hán quả, cũng ví như biển cả, là nơi cư trú của những loài cá lạ to lớn khác thường.
Những giới cấm mà Phật đă hạn định cho các đệ tử, có mười điều lợi ích như vầy:
1. Đặng sự tốt cho nhà đạo.
2. Đặng sự an vui cho nhà đạo.
3. Đặng đè nén những bọn dể duôi phạm giới.
4. Đặng sự an ổn cho những bực tŕ giữ giới luật.
5. Đặng ngăn đón các pháp ác trong đời hiện tại.
6. Đặng ngăn đón các pháp ác trong kiếp vị lai.
7. Đặng d́u dắt những kẻ dữ về lành.
8. Đặng d́u dắt những kẻ sẵn lành cho càng thêm tấn hóa.
9. Đặng bảo tồn pháp luật.
10. Đặng nâng cao pháp luật.
Nên thừa truyền giới luật ra, cho những kẻ nào đă phạm, dầu chánh phạm, hoặc tùng phạm rơ biết rằng: Giới luật mà người đă phạm đó, Đức Thế Tôn đă hạn định ra, bởi nguyên nhân trước kia có một vị đă phạm như vậy. Thế th́ người tu Phật cần nhứt phải giữ giới luật, nếu muốn giữ được hoàn toàn tinh tấn, th́ phải cần biết giới luật có 7 cái đặc ân như vầy:
1. Giới luật giúp cho kẻ thật hành đạt được cái giác.
2. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, xa ĺa sự tu hành thiên về một bên, để t́m sự vui sướng.
3. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, được tránh khỏi bốn đường ác đạo.
4. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, được dứt khỏi các điều phiền năo.
5. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, dứt khỏi các tội lỗi về t́nh dục.
6. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, rửa sạch các pháp chẳng lành nơi thân, khẩu, ư.
7. Giới luật giúp cho kẻ thật hành, đắc hai bậc thánh quả, Nhập lưu và Nhứt lai.
Giới luật phác họa ra sao? Phải để y như vậy, không bao giờ được sửa đổi, nếu sửa đổi th́ không c̣n đạo Phật. Giới luật là một điều cần thiết cho Giáo hội. Bởi vậy trên thế gian nầy, kẻ nào có duyên với Phật, đă theo đạo, th́ phải theo chế độ nhứt định; nên chi Phật đạo ví như biển cả, nước ở đâu đâu, như ở sông, ở rạch, hoặc ở không trung chảy vào biển rồi đồng hóa một màu, trong Giáo hội cũng thế, dầu sang hèn, trí, ngu ǵ vào Giáo hội rồi, cũng coi nhau đồng một hạng, mặc dầu căn cơ độn lợi, hễ người thông minh th́ hết ḷng thương mà d́u dắt kẻ tối tăm, ấy là do nơi giới luật mà được vậy. Giới luật là một chế độ rất khít khao chặt chẽ, cho đến mỗi vị thọ cụ túc giới rồi, dầu cho đi, đứng, nằm ngồi, dầu cho đăng đàn thuyết pháp, dầu cho tŕ b́nh khất thực, mỗi cách hành vi, đều có giới luật nghiêm răn. Tu là trau sửa, hễ tu hành th́ đức hạnh làm gốc, nếu nghiêm tŕ giới luật, tu hành chín chắn, đó tức là con đường giải thoát ! Giới luật là món đắc dụng cho kẻ tu hành, ví như nền tảng chắc chắn để cất lầu cao, lại v́ như bờ rào rất khít khao, không cho vọng tâm phóng túng.
Một người thay mặt cho Phật thật không phải dễ, mỗi cách hành động như: đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, nói, làm, mỗi cách cư xử đều phải giống y Phật, cho đặng Thiện tín, hễ thấy Tăng cũng như thấy Phật. Tăng chúng chỉ giữ giới, tướng mạo trang nghiêm, ở ăn theo Phật, đủ đủ khêu gợi ḷng tín ngưỡng của bá tánh, Tăng chúng thay mặt cho Phật, ít ra cũng phải học hỏi uyên thâm, ngơ hầu hiểu thông và giảng giải lại những lư thuyết rất cao siêu, huyền diệu mà Phật đă thấy khó cho chúng sanh. Sau khi thành Chánh đẳng, Chánh giác, người thay mặt cho Phật lẽ đương nhiên mỗi mỗi phải y theo Phật, phải trọn ḷng vâng chịu theo chế độ của Giáo hội Tăng-già. Theo chế độ ấy, dầu cho tâm chưa được hoàn toàn trong sạch, chớ nết hạnh cũng được sửa đổi rất nhiều, cũng như đức hạnh đáng cho Thiện tín cúng dường, sùng bái ! Một người trước khi xuất gia để vào Giáo hội, phải chịu đủ điều kiện bắt buộc theo luật xuất gia. Làm lễ xuất gia xong, phải giữ giới tập sự, chịu các điều khổ hạnh trong một thời gian nhứt định, ấy cũng là phương pháp nung đúc ḷng kiên nhẫn của người tu. Bởi tu Phật cần nhứt phải kiên tâm tŕ chí. Đến khi vào hàng xuất gia thiệt thọ rồi, lại phải chịu câu thúc trong ṿng giới luật, chịu dưới chế độ của Giáo hội cho đến trọn đời. Nếu không chí quả quyết, giữa đường trở lại, hoặc tâm không trong sạch, chất chứa bụi trần, đă không xứng đáng làm người thay mặt cho Phật, lại thêm một mối hại cho Phật, Pháp nữa. Chế độ của Giáo hội là những qui cũ chuẩn thằng, để bó buộc Tăng chúng cùng chung khuôn khổ, để nâng cao địa vị ḿnh, cho đáng thọ hưởng ḷng ham mộ cúng dường của Thiện tín. Chế độ chật hẹp ấy, giúp người nghiêm giữ nó, chiến thắng biết bao nhiêu trận giặc một cách vẻ vang, khí cụ ấy tức là giới luật vậy.
Cũng như các chế độ khác, đạo Phật được thạnh hành chừng nào, th́ chế độ của Giáo hội lại càng thắt chặt chừng nấy.
Những ai muốn theo đạo Phật mà không chịu nghiêm tŕ theo chế độ của Giáo hội, tức khi giáo Pháp, khi giáo Pháp, tức khi Phật, khi Phật tức khi tâm, ḿnh không kể cái tâm của ḿnh để cho nó tự phóng túng, chừng nó phóng túng được rồi, tưởng không việc ác nào là không dám làm.
Phương chi trong Giáo hội, đều là những người đă ly thân cắt ái, muốn tu vô thượng Bồ Đề, tự nhiên phải nghiêm tŕ giới luật, bởi chưng giới luật là bá hạnh vi tiên. Giới luật chẳng tŕ giữ quả Bồ Đề đâu được đắc thành. Tiên triết xưa có nói: Chúng sanh thọ giới, tức là vào ngôi chư Phật; giới năng sanh tịnh, định năng phát huệ, huệ năng minh tâm, minh tâm kiến tánh là thành Phật. Xưa nay thành Phật Thánh cũng đều do giới luật vậy, muốn tu hành th́ phải nghiêm giữ giới luật, phát đại nguyện dơng mănh tinh tấn, mới đạt quả Niết Bàn đặng.
Ấy vậy, trong phạm vi chật hẹp, giới luật có thể nâng cao địa vị người lên nẻo tối cao cho đặng giải thoát phiền năo khổ trần, thật quư báu vô cùng! Nên chi Phật đă ân cần dặn bảo, người tu hành há dám dể duôi mà hờ hững hay sao? Tóm lại, muốn xuất gia tu Phật, phải hoàn toàn chịu dưới chế độ nghiêm luật của Giáo hội Tăng-già.
MƯỜI GIỚI TẬP SỰ SA DI
1 Cấm sát sanh
2 Cấm trộm cắp
3 Cấm Dâm dục
4 Cấm nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.
5 Cấm uống rượu, tham lam, sân giận, si mê
6 Cấm trang điểm phấn son, áo quần hàng lụa tươi tốt
7 Cấm nghe, xem hát, múa, đờn, kèn, yến tiệc vui đông.
8 Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.
9 Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai (ăn chay)
10 Cấm rờ đến tiền, bạc, vàng, của quí, đồ trang sức
1/ GIỚI THỨ NHẤT: CẤM SÁT SANH
Trên ví đến chư Phật Thánh, Thầy cùng cha mẹ, dưới cho đến những loài ḅ, bay, máy, cựa, côn trùng nhỏ nhít, nếu có mạng sống là chẳng đặng giết hại: hoặc ḿnh giết, hoặc xúi người giết, hoặc thấy giết mà vui ḷng đều phạm giới sát cả ! Ngày xưa những nhà đạo đức từ tâm, qua mùa đông bắt rận bỏ trong ống tre, phủ bông g̣n cho ấm, cạo mồ hôi ch ăn, v́ sợ chúng đói lạnh mà chết đi ! Lại như sự lượt nước v́ sợ uống lầm giết mạng vi trùng; sự che đèn v́ sợ con thiêu thân uổng tử; chẳng dám nuôi mèo, nuôi cḥn, v́ sợ chết nhiều con vật khác ! Ấy đó việc làm của người đă chứng đạo từ bi ! Loài nhỏ nhít mà c̣n ḷng thương xót dường ấy, huống hồ mạng sống to lớn, quan hệ đến bực nào ?
Ngày nay dầu ta chẳng làm được như người xưa, chớ lẽ nào ta lại đi giết hại ? Như có thấy người giết, ta nên dùng lời khôn khéo, khuyên nhắc người phát khởi từ tâm, rộng ơn tha mạng sống ấy, khiến cho đương lúc ngặt nghèo, bỗng trở nên yên úy, cám cảnh biết ngần nào ! Vậy nên nhớ rằng: Sự sanh tử luân hồi là bởi tại dây oan trái, muốn giải thoát phải tháo mở hận thù.
2/ GIỚI THỨ HAI: CẤM TRỘM CẮP
Nếu không phải của người cho th́ chẳng đặng lấy, chẳng những vàng bạc là vật báu quí mà thôi, dầu cho đến vật hèn hạ, như mũi kim, ngọn cỏ cũng vậy nữa. Hoặc của chúng Tăng, hoặc của quan, của dân, của hết thảy, hoặc cướp lấy, trộm lấy, dối trá mà lấy đến như sự dối ḍ, thảy đều là trộm đạo.
Xưa có kẻ Sa-di lấy trộm của Giáo hội 7 trái cây, một Sa-di khac nữa lấy trộm của chúng Tăng vài cái bánh một Sa-di khác nữa lấy trộm của chúng Tăng một chút đỉnh đường phèn, cả ba đều đọa địa ngục !
Vậy nên nhớ rằng: thà để chặt tay chớ chẳng lấy của quấy.
3/ GIỚI THỨ BA: CẤM DÂM DỤC
Kẻ tại gia giữ 5 giới, ấy chỉ ngăn việc tà dâm, chớ người xuất gia thọ mười giới, phải dứt hẳn sự dâm dục, nếu chẳng ngăn ngừa để phạm gọi là phá giới.
Xưa có một Ni-cô trong tâm móng khởi dâm dục bèn nói như vầy: chẳng phải sát sanh, chẳng phải trộm đạo, th́ không tội báo vậy kẻ ấy cả thân ḿnh túa ra lửa dữ, sa về chốn địa ngục ! Người đời bởi do ḷng dục mà giết hại thân ḿnh, tiêu tan sự nghiệp, ta mong đổi, phàm làm Thánh, theo đạo bỏ đời, há lại phạm như vậy hay sao ? Há không biết dâm dục là nguồn gốc của sự sanh tử luân hồi hay sao ?
Vậy
nên nhớ rằng: Dâm dục mà sống đi chăng nữa, cũng chẳng bằng trinh khiết mà
chết !![]()
4/ GIỚI THỨ TƯ: CẤM NÓI LÁO
Nói láo có bốn thứ:
1. Một là vọng ngữ: Lấy phải làm quấy, lấy quấy làm phải, thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy nói thấy gọi là chẳng thiệt.
2. Hai là ỷ ngữ: khoe khoang ỷ thị, trau chuốt lời nói, ra tuồng màu mè, hồ mị, ỏng ẻo, làm cho mỗi câu văn để quyến rũ người, say mê xiêu ḷng, lạc dạ.
3. Ba là ác khẩu: Miệng dữ hỗn xược, mắng nhiếc, rủa sả người ta.
4. Bốn là lưỡng thiệt: Hai lưỡi đâm thọc, tới đây nói chuyện ở đàng kia, tới đàng kia nói chuyện ở đàng đây, châm chít cho người ta xa ĺa ân nghĩa, ghẹo chọc cho người nóng nảy đua tranh! Những đến trước khen, sau chê, mặt phải lưng quấy, nói tội cho người, nói xấu chuyện người…đều phạm về giới thứ tư vậy.(cũng như chưa dứt ḷng phàm mà nói chứng quả Thánh ấy thật đại vọng ngữ tội nặng vô cùng). Chỉ trừ lúc gặp người tai nạn gấp rút, ḷng từ bi dùng phương chước khéo trợ cứu ấy chẳng phạm mà thôi. Người đời xưa hạnh nết thuần lương, tự nhiên chẳng bao giờ nói vọng, huống chi ḿnh nay người đạo, ĺa bỏ cảnh đời, mà c̣n đeo mang nghiệp quấy hay sao ?
Kinh có phép rằng: Một Sa-di kia chê cười một vị Tỳ Kheo tụng kinh như tiếng chó sủa, mà vị Tỳ Kheo ấy thiệt là bực A-La-Hán chẳng chấp, lại đi dạy Sa-di sám hối, cho nên Sa-di đó khỏi đọa địa ngục, nhưng c̣n phải mang thân chó, một lời nói dữ mắc hại biết dường nào?
Vậy nên nhớ rằng: Con người ở đời có búa để sẵn trong miệng, nói lời nói dữ ấy là ḿnh chém thân minh !
5/ GIỚI THỨ NĂM: CẤM UỐNG RƯỢU
Rượu là món rất hại, chỉ trừ cơn bịnh nặng phải dùng làm thuốc đó thôi. Nhưng nếu chưa tŕnh Giáo hội biết th́ một nhỏ chẳng đặng thấm môi, cho đến chẳng đặng hửi mùi rượu, chẳng đặng đứng tại quán rượu, chẳng đặng lấy rượu cho người uống !
Xưa có một người Thiện nam, nhơn phá giới rượu mà phạm luôn 36 lỗi khác, ấy thật là chỉ có một lần uống no đủ, mà biết bao lần chịu thiếu thốn, về sự mất phước an vui, thêm tội khổ sầu, đời đời mê muội, mất giống trí huệ, loạn vọng điên cuồng, thật là dự hơn thuốc độc. Người tại gia c̣n thế, lại như kẻ xuất gia, nếu uống rượu thật là đáng tủi hổ cho tiếng nhà Sư!
Vậy nên nhớ rằng: Thà uống nước đồng sôi chớ chẳng uống rượu.
6/ GIỚI THỨ SÁU: CẤM CHƯNG DIỆN ĐEO BÔNG
Chẳng đặng trau dồi về sự mặc, chẳng đặng dùng phấn sáp, dầu thơm , đeo bông.
PHẬT DẠY: Tam y chỉ dùng bô bố to về xấu xí, cấm hẳn tơ lụa nhiễu hàng, sợ e lông thú ruột tằm những sanh mạng v́ chết thảm, ḷng từ bi bao nỡ mặc cho đành !
Nhà Hạ vua Vơ mặc áo xấu, ông Công Tôn dùng mền vải ấy là bực vương thân quyến thuộc quới nhứt đời, chẳng se sua chưng diện, nay người đạo há tham huê dạng mà làm việc trái ngược hay sao? Ca-sa hoại sắc, rách rưới, tạm che h́nh đó mới hạp đạo? Xưa có người, ba mươi năm đi có một đôi giày, ngày nay có ai được vậy !
7/ GIỚI THỨ BẢY: CẤM CA HÁT, CỜ BẠC
Chẳng đặng đờn ca, hát xướng, cũng chẳng đặng tới nghe, xem. Xưa có vị Tiên nhơn, bởi nghe hát, âm thinh dịu dàng mà phải dứt mất phép linh, nghe xem c̣n hại dường ấy, huống chi tự ḿnh hát xướng, vui chơi. Ta v́ đường sanh tử bỏ tục tầm thanh, há c̣n đi ham vui theo đàng bất chánh, kỵ nhạc chơi bời, cờ bạc, các cách chơi tiêu khiển, giải trí của người đời đều nguy hại cho ḷng đạo cả!
8/ GIỚI THỨ TÁM: CẤM NGỒI GHẾ CAO, NẰM GIƯỜNG RỘNG
PHẬT DẠY: Giường nằm không cao quá tám ngón tay ( 4 tấc ), nếu trên nữa là phạm, chẳng đặng chạm trỗ sơn vẽ, cùng chưng, treo màn chấn lụa là !
Người xưa dùng cỏ lót ngồi, nghỉ qua đêm dưới gốc cây, nay có giường chơng, kể cả hơn nhiều lắm vậy, lẽ nào c̣n tham rộng lớn buông lung vóc huyễn hay sao? Ông Hiếp-Tôn-Giă trọn đời lưng không dính chiếu. Ông Cap-Phong-Diệu thiền sư ba năm nguyện đứng chẳng nương giường. Ông Ngô-Đạt thọ nhận trầm hương ṭa, tổn phước mà mắc báo ! Ta nên coi những gương ấy hầu sửa ḿnh.
9/ GIỚI THỨ CHÍN: CẤM ĂN SÁI GIỜ
Hàng chư Thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn đêm ! Người tu học Phật, chẳng ăn quá giờ ngọ, loài ngạ quỷ nghe khua bát th́ trong cổ khát khao phừng lửa, cho nên ăn trong gị ngọ hăy c̣n vắng vẻ, huống hồ quá ngọ. Xưa có vị cao Tăng, nghe vị sư gần bên sau giờ ngọ c̣n thổi lửa, bất giác Ngài sa nước mắt, thương trong Phật Pháp suy đồi, chỉ trừ người vóc yếu bịnh nhiều, món ăn chiều ấy như món thuốc, chữa lành bịnh rồi thôi !
Kỳ dư ai trái lời Phật dạy, thật đáng tủi hổ ! Thương kẻ đói ḷng, chẳng nỡ ăn nhiều, chẳng đành ăn ngon, chẳng an ḷng mà ăn, phải như vậy! Bằng chẳng đặng vậy, ắt mắc tội nặng nề ! Chưa phải bịnh nặng mà ăn sau giờ ngọ, không đáng gọi bực Sa-di vậy !
10/ GIỚI THỨ MƯỜI: CẤM GIỮ TIỀN, BẠC, VÀNG
Thuở Phật sanh tiền, chư Tăng đều đi khất thực, chùa không lửa khói. Vật ăn, đồ mặc, chỗ ở, thuốc men, đều nhờ nơi những người cư sĩ hộ tŕ Phật Pháp, nên tiền bạc không chỗ dùng, Phật cấm nghe biết, huống chi cầm giữ !
Xưa nàh nho thanh bạch, chẳng đoái của bằng vàng. Nay ta Khất-sĩ, xưng nghèo, chứa của để làm ǵ, người tu đời nay không phải Khất-sĩ, nên chi lúc ở am chùa hoặc đi phương xa, cũng chưa khỏi dụng phí tiền bạc, trái lời Phật dạy dường ấy, hổ mang danh Phật tử vô cùng ! Hăy thương kẻ ngặt nghèo, thường hành bố thí, chớ cầu nhiều, chớ chứa, để, chớ buôn bán, chớ dùng của báu trau giồi xác thân, ăn mặc đơn giản thanh bần mới phải người tu giải thoát.
TỨ Y PHÁP TRUNG ĐẠO
1) Người tu xuất gia: phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng cóai cúng vải, đồ cũ th́ được nhận.
2) Người tu xuất gia: chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết pháp được ăn tại chùa.
3) Người tu xuất gia: phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ bằng lá một cửa th́ được ở.
4) Người tu xuất gia: chỉ dùng phân uế của ḅ mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, đường, dầu, th́ được dùng.